Trong sử sách Việt Nam, có những bậc hiền thần được hậu thế nhắc đến không chỉ bởi tài năng, mà còn bởi đức hạnh thanh liêm, không bị danh lợi làm lay động. Chu Văn An và Nguyễn Công Trứ là hai nhân vật tiêu biểu như vậy.
Chu Văn An: Dâng “Thất trảm sớ”, không được chấp thuận thì từ quan
Chu Văn An (1292–1370) là danh nho đời Trần, từng giữ chức Tư nghiệp Quốc Tử Giám.
Theo Đại Việt sử ký toàn thư (Quyển VII), vào thời vua Trần Dụ Tông, triều chính có nhiều gian thần, kỷ cương rối loạn. Trước tình hình đó, Chu Văn An đã dâng sớ xin chém bảy nịnh thần (gọi là “Thất trảm sớ”) để chấn chỉnh triều cương.
Sử sách ghi lại rằng sau khi dâng sớ mà không được chấp thuận, ông “bèn treo mũ từ quan, về ở ẩn tại núi Phượng Hoàng”.
Ông về núi Phượng Hoàng (Chí Linh), mở trường dạy học, sống cuộc đời thanh đạm.
Trong Đại Việt sử ký toàn thư, Chu Văn An được nhận xét là người “tiết tháo trong sạch, học vấn tinh thâm”.

Hành động không ở lại triều đình khi đạo lý không được trọng dụng đã thể hiện rõ khí tiết của một bậc sĩ phu chân chính.
Nguyễn Công Trứ: Làm quan nhiều thăng trầm, vẫn giữ khí tiết
Nguyễn Công Trứ (1778-1858) là danh thần triều Nguyễn, từng giữ nhiều chức vụ như Thượng thư, Tổng đốc, có công trong việc khai hoang, lập ấp (như vùng Kim Sơn, Tiền Hải).

Theo các ghi chép trong Đại Nam thực lục, cuộc đời làm quan của ông nhiều lần thăng giáng. Có lúc ông giữ chức cao, nhưng cũng có lúc bị giáng xuống làm lính thú.
Tuy vậy, ông vẫn giữ thái độ bình thản trước danh lợi. Các ghi chép cho thấy ông là người thẳng thắn, không xu nịnh, không dựa quyền thế để mưu lợi riêng
Trong nhiều ghi chép về Nguyễn Công Trứ, ông nổi bật với khí phách và nhân cách của một người không bị danh lợi chi phối.
Người giữ đức, lưu lại điều bền lâu
Qua những ghi chép còn lại trong sử liệu, có thể thấy một điểm chung:
Chu Văn An khi đối diện với triều chính rối ren, trọng dụng nịnh thần đã lựa chọn rời bỏ quan trường. Nguyễn Công Trứ khi trải qua thăng trầm vẫn giữ được sự trung trực, thẳng thắn, không chạy theo lợi ích cá nhân.
Cả hai đều không vang danh về tản sản, nhưng lại để lại điều mà sử sách nhiều lần nhắc đến: tiết tháo, khí tiết, và sự thanh liêm.
Những gì thuộc về danh lợi có thể thay đổi theo thời thế nhưng đức hạnh và chính khí thì có thể lưu lại lâu dài trong lòng người và trong sử sách.
U.H (Tổng hợp)
BÀI CHỌN LỌC:
Tìm thấy cội nguồn cái đẹp từ một cuốn sách
Cậu bé vượt qua tự kỷ nhờ kết duyên cùng Phật pháp
XEM THÊM:
Huyền sử về 18 vị vua Hùng: (P1) Kinh Dương Vương – Vị Hùng Vương thứ nhất
Tân Thế Kỷ *Truyền Thống – Nhân Văn – Trung Thực*



