spot_img
20 C
Vietnam
Thứ Hai,20 Tháng Năm
spot_img

Cuộc đời phi thường của Vũ Huấn – người ăn mày xây trường nghĩa học

270292 medium
Vũ Huấn – người ăn mày phi thường được lưu danh sử sách nhờ việc đại nghĩa của mình – Ảnh: Epoch Times

Tân Thế Kỷ – “Không lấy vợ, chẳng sinh con, xây trường nghĩa học ấy là vô tư”, đó là những câu hát nghêu ngao của một người ăn mày phi thường duy nhất được lưu danh sử sách, một người khố rách áo ôm vì để làm tròn tâm nguyện mà ông chẳng màng việc ăn sỏi đá, rắn rết…

Tuổi thơ vất vả nuôi chí xây trường nghĩa học

Ngày 5/12/1838, Vũ Huấn sinh ra trong một gia đình nghèo khổ ở Vũ gia trang, huyện Đường Ấp, tỉnh Sơn Đông. Vũ Huấn có 2 người anh trai là Võ Khiêm và Võ Nhượng cùng 4 chị em gái khác. Vũ Huấn cũng là con thứ 7 nên tên thường gọi lúc nhỏ của cậu là Vũ Thất. Vũ Thất về sau xây dựng trường nghĩa học, được nhà Thanh ngợi khen, được vua ban tên là Huấn, ý rằng “Thùy huấn vu thế” (lưu truyền và giáo huấn hậu thế).

Vũ Huấn vốn từ nhỏ đã lương thiện, trong sáng, vô cùng hiếu thảo với mẹ. Khi mới ba bốn tuổi, cậu đã biết cầm phần bánh màn thầu của mình đưa lên miệng mẹ rồi nghiêng đầu yên lặng. Người mẹ rơi nước mắt, ôm cậu vào lòng trìu mến nói: “Con à, nhà ta nghèo, không cho con được một cuộc sống đủ đầy, nhưng lại cho con một tấm lòng nhân hậu”.

Lên 7 tuổi, cha Vũ Huấn qua đời, cậu phải cùng mẹ đi ăn xin ngoài đường để sống qua ngày. Có người cho bát canh, cậu liền đưa ngay cho mẹ dùng, đến lúc có được ít tiền lẻ là cậu bắt đầu để dành, tiền để dành lại đem mua cho mẹ đồ ăn ngon rồi tự tay nâng lên trước mặt mẹ.

Có khi đường về nhà xa đến hai ba mươi dặm nhưng để đưa đồ ăn cho mẹ cậu chẳng ngại mà chạy về trong đêm tối. Tấm lòng hiếu thảo của Vũ Huấn đã khiến người đời sau vô cùng kính ngưỡng. Sau khi Vũ Huấn qua đời, tri huyện Đường Ấp là Kim Lâm đã viết lời khen ngợi: “Người lương thiện lại chí hiếu”.

Một lần trong lúc đang ăn xin ngoài đường, Vũ Huấn vô tình đạp phải một cuốn sách cũ nát bên đường, trên bìa sách đề “Tam Tự Kinh”. Vũ Huấn vội nhặt sách lên, về nhà cậu hỏi mẹ quyển sách ghi chữ gì, mẹ cậu chỉ lắc đầu vì bà cũng không biết chữ. Vũ Huấn lẳng lặng đem giấu sách thật kỹ.

Một lần khác cũng trong lúc đang xin ăn, Vũ Huấn đi ngang qua nhà một thầy giáo, tiếng đọc sách vang lên lanh lảnh khiến cậu không thể không dừng chân ngó vào. Thế là ngày ngày cậu quên cả việc xin ăn mà lén xem trộm người ta học. Quần áo rách tả tơi, bụng đói cồn cào ấy vậy mà Vũ Huấn vô cùng khát khao được đọc sách, nhiều lần cậu bị thầy giáo đuổi ra khỏi cửa vì nghèo.

Năm lên 16 tuổi, Vũ Huấn đến làm thuê cho nhà tú tài Trương Biến Chinh ở thôn Tiết Điếm, huyện Quán Đào. Cậu làm việc rất chăm chỉ và thật thà, chẳng từ nan công việc bẩn thỉu vất vả, cho dù là cho heo ăn, chăm bón vườn cây, một nắng hai sương, thức khuya dậy sớm, mệt nhọc cũng chẳng từ. Vất vả suốt mấy năm ròng như vậy nhưng lão gia họ Trương không đưa cậu một đồng tiền lương nào, bởi ông ta biết cậu không biết chữ, nên làm giả sổ sách để gạt tiền.

Sau khi bị lừa, Vũ Huấn vào một ngôi miếu nhỏ trong thôn ngủ mê man ba ngày liền. Sau khi thức dậy, ông tỉnh táo suy nghĩ lại, hiểu ra rằng mình chịu bao nhiêu lừa dối sỉ nhục đều là vì không biết chữ. Mà những người nghèo khổ như ông trong xã hội có rất nhiều, nếu không được học hành thì sẽ vĩnh viễn không có lối thoát. Thế là ông nảy sinh ý muốn xây dựng trường nghĩa học (trường học tình nghĩa). Nghèo khổ nhưng kiên cường, chí khí cao cả của ông không vì cảnh nghèo hèn mà suy nhụt. Khi đã xác định mục tiêu, Vũ Huấn dùng công phu khổ hạnh cả đời mình để thực hiện ý nguyện này. Nhưng với thân phận cực nghèo mà lại muốn lập trường nghĩa học, là chuyện từ cổ chí kim chưa từng có ai làm, có thể tưởng tượng được việc ấy khó khăn đến nhường nào. 

Một người ăn mày, không màng danh, không vì lợi, nuôi chí lớn, từ đó về sau bắt đầu làm lại cuộc đời. Năm ấy là năm 1859, Vũ Huấn 21 tuổi, bắt đầu đi ăn xin tích lũy tiền của. Tay cầm một cái muôi bằng đồng, trên vai vác túi, mặc quần áo rách nát, vừa đi vừa hát. Ông đi ăn xin ở khắp nơi, khắp cả các vùng Sơn Đông, Hà Bắc, Hà Nam, Giang Tô rộng lớn đều đã từng in dấu chân ông.

Năm Quang Tự 14, Dương Thụ Phường trong “Biểu văn đề xuất khen thưởng huyện Đường Ấp” đã ghi rằng: “Từ thuở nhỏ đã ước ao trường học nghĩa tình, nên tự gọi mình là ‘Nghĩa Học Chứng’, cũng là để nói lên tâm nguyện này”.

Xây dựng trường học nghĩa tình phục vụ cho người người khắp thiên hạ chính là ước mơ và hoài bão của Vũ Huấn từ thuở nhỏ, vậy nên trong lòng luôn nhắc nhở không quên, tựa hồ như vì xây cho được trường học nghĩa tình này mà lao tâm khổ tứ, ngày mong đêm nghĩ.

Thực tế về sau đã cho thấy tinh thần khai sáng trường học nghĩa tình của Vũ Huấn trong việc giáo dục những người bình dân đã tạo nên kỳ tích. Tinh thần trượng nghĩa, chịu thương chịu khó, nhẫn nhục khổ hạnh của ông khiến bao người ngưỡng mộ.

641
Xây dựng trường học nghĩa tình phục vụ cho người người khắp thiên hạ chính là ước mơ và hoài bão của Vũ Huấn từ thuở nhỏ, vậy nên trong lòng luôn nhắc nhở không quên. (Ảnh: Secretchina)

Kẻ ăn mày hết lòng xây trường, chấn hưng nền giáo dục, không cưới vợ, chẳng sinh con

Ông ngày nào cũng ôm tâm niệm ấy trong lòng mà ca hát, ca từ giống thơ mà không phải thơ, giống nhạc mà không phải nhạc, có thanh có sắc, có nội dung, có vần, tất cả đều có liên quan tới việc mở trường nghĩa học. Dù người khác hỏi chuyện hay chế diễu, ông đều lấy tiếng hát để đối đáp lại; dù là làm việc hay nghỉ ngơi, ông đều ca hát một cách vui vẻ.

“Đi ở đợ bị người ta ức hiếp, không bằng tự mình đi ăn xin,

Đừng khinh tôi ăn xin, sớm muộn sẽ lập được trường nghĩa học.”

Ông đi khắp nơi làm thuê, giành lấy việc khổ việc nặng mà làm, trải qua cuộc sống như trâu ngựa, mục đích hoàn toàn là vì để mở trường nghĩa học. Làm khuân vác để kiếm miếng cơm, nhưng Vũ Huấn không cho là khổ, luôn vui vẻ và ca hát. Ông hát rằng:

“Bón phân, rẫy cỏ, làm đất, bất kể dơ bẩn, bất kể tiền nhiều hay ít tôi đều làm.

Cho tôi tiền, tôi làm ruộng, xây được trường nghĩa học thì không uổng công.

Vừa giống lừa, vừa giống trâu, lập được trường nghĩa học thì không đáng buồn.”

Một năm sau, ông cực khổ tích cóp được một ít tiền nhưng đều bị anh rể lừa lấy hết. Ông buồn giận đến mức không ăn được cơm, ngất lịm đi, mấy ngày sau trong lòng chợt có tiếng nói: “Chỉ gặp người tốt nhà cao, không làm cho phường ác bá.”

Để xoay sở tiền, Vũ Huấn còn cạo đầu, chỉ để lại mỗi bên thái dương một lọn tóc hình trái đào, mặc trang phục kỳ dị như một anh hề để được người ta bố thí. Số tiền có được nhờ bán bím tóc đã trở thành món tiền đầu tiên mà ông dành dụm được để xây trường nghĩa học.

Mọi người xung quanh thấy ông không có nhà cửa, cũng không có nghề nghiệp ổn định, lưu lạc tứ phương, nhưng lúc nào cũng nói muốn xây trường nghĩa học, đều cười nhạo bảo là ông bị “Bệnh nghĩa học”, ông cũng không hề động tâm, ca hát đáp lại: “Bệnh nghĩa học, không nóng tính, nhìn thấy người, đều kính lễ, thưởng cho tiền, nuôi mạng này, xây trường nghĩa học vạn năm chẳng thay lòng”.

Khi xin cơm ăn mà gặp phải người keo kiệt không bố thí, ông hát: “Không cho tôi, tôi không oán, tự nhiên sẽ có người lương thiện giúp tôi chút cơm ăn.”

Khi bị người ta lớn tiếng chửi rủa, ông vẫn ôn hòa đối đáp: “Xin ngài đừng tức giận, khi nào ngài nguôi giận, khi ấy tôi sẽ đi ngay.”

Vũ Huấn hễ kiếm được chút tiền nào đều tích góp thêm từng đồng một, lương khô xin được phần ngon đều bán hết để đổi thành tiền. Bản thân chỉ ăn uống qua loa, toàn ăn những đồ ăn mốc meo và rễ rau cải hay cuống khoai lang, vừa ăn vừa hát:

“Ăn linh tinh, thay bữa cơm, tiết kiệm tiền xây trường nghĩa học.

Ăn ngon miệng, không phải là tốt, xây được trường nghĩa học mới là tốt.”

Vũ Huấn làm việc luôn tay luôn chân từ sáng đến tối, không khi nào nghỉ ngơi, toàn làm những việc người khác không chịu làm, không thèm làm hoặc không làm nổi. Việc đẩy cối xay lúa thường là để gia súc làm, ông cũng sẵn lòng làm. Xay lúa phải làm từ lúc mặt trời lặn, ông mồ hôi đầm đìa mà làm không biết mệt. Mỗi khi đến kỳ nhà nông bận bịu, cậu thường thay người ta đi gặt lúa lấy công. Mặt khác, vào lúc sáng sớm ông còn đi dọn dẹp nhà vệ sinh cho người ta, rút hầm cầu đem phơi nắng làm phân bón. Có khi ông cũng giúp người ta gánh nước tưới cây trong vườn, gánh lương thực, gánh những thứ cồng kềnh nặng nề, tùy theo đường đi xa hay gần và gánh nặng bao nhiêu mà tính thù lao, tiền thu được cũng khá nhiều. Có những lúc gặp phải một số người cá biệt không trả tiền, ông cũng không tranh cãi.

Có khi ông còn bắt chước giống nghệ nhân giang hồ đi biểu diễn xiếc ảo thuật tại khắp các hội làng hay chợ phiên để kiếm tiền thưởng. Ông còn biểu diễn những tiết mục khó, như toàn thân lộn ngược trồng chuối “Giang đại đỉnh”, dùng tay thay chân “Hạt tử bà”, xoay người nhảy “Đả xa luân”, bò trên mặt đất làm ngựa cho trẻ con cưỡi, còn diễn cả những trò rất nguy hiểm như đâm xuyên người, trảm đầu, thậm chí cả ăn sâu róm, rắn rết, nuốt gạch đá, v.v…

fc65880c65994e8c90abc7f5115d109d
Vũ Huấn mặc trang phục kỳ dị như một anh hề mua vui cho khách qua đường, âu cũng là mong có thêm tiền thưởng tặng. (Ảnh: QQ)

Ngoài ra, ông còn làm người mai mối, làm người đưa thư, nhặt đồng nát, ép bông vải, kéo sợi. Vũ Huấn cứ lang thang phiêu bạt khắp nơi như vậy, vừa làm lụng, vừa ăn xin. Buổi tối thì ngủ trong phòng bếp, phòng xay lúa nhà người ta, hoặc ngủ trong những ngôi miếu đổ nát. Mỗi đêm, dưới ánh đèn bé như hạt đậu, ông còn se sợi bông, se sợi đay làm cuộn chỉ. Ông vừa se sợi vừa hát:

“Mười sợi chỉ, quấn cuộn tròn, một lòng xây trường nghĩa học;

Cuộn chỉ tròn, nối sợi chỉ, xây được trường học thì không có gì phải buồn”.

Năm 29 tuổi, Vũ Huấn dùng tiền của nhiều năm dành dụm được mua rẻ 45 mẫu đất trũng bị nhiễm phèn, hát rằng:

“Chỉ cần tôi mở được trường nghĩa học, mua đất không sợ mua đất cát đất phèn,

Phèn rồi sẽ hết, cát rồi sẽ trôi, ba năm sau sẽ hết phèn hết cát.

Chỉ cần tôi mở được trường nghĩa học, cần đất chứ không sợ đất trũng;

Nước sẽ rửa phèn, đất sẽ bồi đắp, ba năm sau đất trũng sẽ lấp đầy.”

Năm 38 tuổi, Sơn Đông bị hạn hán nặng, rất nhiều người chết đói. Vũ Huấn dùng tiền của mình mua 40 gánh cao lương cứu trợ trăm họ. Anh trai Vũ Huấn không có việc làm, thường tới mượn tiền ông, người nhà và bạn bè cũng nhao nhao đòi được giúp đỡ. Vũ Huấn nghiêm mặt nói: “Không kể họ hàng, không kể bạn bè, tôi còn phải xây thêm mấy trường nữa”.

Ngược lại, ở quê nhà có hai mẹ chồng nàng dâu sống đời quả phụ, không người thân thích, đi ăn xin để mưu sinh, Vũ Huấn hào phóng tặng cho hai mẹ con mười mẫu đất và nói:

“Người này tốt, người này tốt, tặng bà mười mẫu đất thấy còn chưa đủ.

Người này hiếu, người này hiếu, cho mười mẫu đất mà nuôi dưỡng cụ già”.

Kiến tha lâu đầy tổ, trải qua nhiều năm vất vả, cuối cùng Vũ Huấn đã tích trữ được khá nhiều tiền. Ông nghe nói trong huyện có một vị cử nhân tên là Dương Thụ Phương, là người chính trực, danh thơm tiếng tốt, rất đáng tin cậy, muốn đem toàn bộ số tiền dành dụm được cất ở nhà họ Dương, bèn đến Dương phủ cầu kiến. Vì thấy ông chỉ là một người ăn mày, Dương Thụ Phương từ chối không gặp, thế là ông quỳ mãi trước cổng suốt 2 ngày, cuối cùng khiến Dương cảm động. Vũ Huấn lấy hết số tiền ăn xin tích góp được mang đến, bày tỏ nguyện vọng muốn góp vốn để mở trường nghĩa học. Dương Thụ Phương vô cùng cảm phục, chẳng những bằng lòng giữ tiền cho ông mà còn tỏ ý muốn giúp ông mở trường.

Năm 1886, Vũ Huấn 49 tuổi, đã mua được 230 mẫu ruộng, tích lũy được hơn 3800 xâu tiền, quyết định sáng lập trường nghĩa học. Năm sau, một số địa chủ tiến bộ vì ngưỡng mộ lòng trượng nghĩa của Vũ Huấn đã cùng nhau hiến tặng đất đai để xây trường. Vũ Huấn bắt đầu đi nhiều nơi mua gỗ, gạch, ngói, tự mình đi áp tải. Mỗi ngày từ sáng đến tối sống chung với các công nhân, bưng gạch múc nước, việc gì cũng làm.

Năm 1888, Vũ Huấn dùng hơn 4000 xâu tiền, thành lập trường nghĩa học đầu tiên ngoài cửa đông thị trấn Liễu Lâm, gọi là “Sùng Hiền nghĩa học” (nghĩa là “Trường nghĩa học quý trọng người hiền tài”). Vũ Huấn đã dùng 30 năm để thực hiện lý tưởng của mình. Trong 30 năm ấy, ông chịu đủ đắng cay gian khổ nhưng trước sau vẫn kiên định, từng bước từng bước tiến đến mục tiêu. Sau khi xây được trường học, Vũ Huấn tự mình quỳ gối mời các tiến sĩ, cử nhân có học vấn về làm thầy, quỳ gối mời Dương Thụ Phương về làm hiệu trưởng, quỳ gối mời các gia đình nghèo khó đưa con cháu đến trường học. Năm đó tuyển được hơn 50 học sinh, phân thành 2 lớp, không thu học phí. Trong ngày khai giảng, Vũ Huấn chuẩn bị tiệc rượu thịnh soạn chiêu đãi hiệu trưởng, các thầy giáo và các thân hào, còn bản thân mình chỉ ở bên ngoài cúi đầu lạy tạ các quan khách, kiên quyết không chịu ngồi vào bàn tiệc. Hết tiệc rượu, ông chỉ ăn một ít canh thừa thịt nguội nhưng vẫn cảm thấy thỏa lòng.

Sau khi thành lập trường, tâm nguyện đã được thực hiện, nhưng Vũ Huấn vẫn đi ăn xin mưu sinh như trước, sống trong miếu hoang, tất cả học trò cùng quỳ gối mời ông về ở trong trường nhưng ông cũng không đồng ý, nói: “Tôi sống thế này bản thân không cảm thấy khổ, chỉ cần các cháu cố gắng học tập là tôi vui sướng rồi”. Một ngày mưa to gió lớn, ngói trên miếu bị gió thổi, rơi xuống trúng Vũ Huấn khiến ông vỡ đầu chảy máu, nhưng ông vẫn thản nhiên: “Đánh vỡ đầu, rơi máu đỏ, nhưng ta đã xây xong trường nghĩa học rồi”.

Vũ Huấn cũng rất quan tâm đến tình hình học tập của học sinh, thường hay đến trường quan sát, đối với những thầy giáo dạy bảo học trò tận tình, ông dập đầu quỳ gối cảm tạ; đối với những học trò ham chơi, không lo học hành, ông quỳ xuống vừa khóc vừa khuyên: “Không cố gắng đọc sách thì không mặt mũi nào về nhà gặp cha mẹ”. Một hôm sáng sớm, học trò đều đã đến lớp nhưng thầy giáo lại chưa ngủ dậy. Vũ Huấn lặng lẽ đi vào phòng ngủ của người thầy, khẽ quỳ trước giường mà khóc. Khi người thầy thức dậy, Vũ Huấn nói: “Thầy giáo ngủ, học trò huyên náo, tôi tới quỳ xin cho mọi việc được tốt đẹp”. Còn có một thầy xin nghỉ để về quê, quá hạn mà chưa quay lại trường. Vũ Huấn đi bộ 30 cây số tới nhà người thầy, một mình chờ ngoài cửa suốt đêm. Ông thầy xấu hổ vô cùng, không dám nghỉ phép quá hạn nữa. Tất cả các thầy trò đều cảm động vì lòng thành khẩn của Vũ Huấn nên không ai sơ xuất lơ là nữa, dù chỉ trong khoảnh khắc. Tác phong dạy và học của cả trường trở nên vô cùng chuyên cần và nghiêm túc.

Quan Tuần phủ Sơn Đông tên là Trương Diệu, nghe nói Vũ Huấn làm việc nghĩa, bèn trịnh trọng mời ông đến gặp mặt. Ông quần áo tả tơi đi đến phủ Tế Nam. Khi gặp mặt, ông vừa nói chuyện một cách đĩnh đạc với Trương Tuần phủ, vừa se chỉ không ngừng. Sự thành thật và chất phác của ông khiến quan Tuần phủ rất cảm động, liền hạ lệnh miễn thu thuế trường nghĩa học và miễn lao dịch, hơn nữa còn hiến tặng 200 lượng bạc, đồng thời tấu xin vua ban cho ông tấm biển “Lạc thiện hảo thi” (nghĩa là “Thích làm việc thiện và hay bố thí”). Triều đình nhà Thanh ban cho trường danh hiệu “Nghĩa học chính” (nghĩa là “Trường nghĩa học chân chính”), ban thưởng cho ông bộ quan phục. Đó vốn là vinh dự không gì sánh nổi, nhưng trước mặt quan khâm sai, Vũ Huấn không muốn quỳ xuống tạ ơn, cũng không muốn mặc quan phục. Ông nói: “Trường nghĩa học chân chính, không phải phong danh hiệu, quan phục cũng không hữu dụng. Trong lòng tôi mãi mãi chỉ mong dựng được trường nghĩa học mà thôi”.

Năm Quang Tự thứ mười sáu (1890), Vũ Huấn tài trợ hòa thượng chùa Liễu Chứng 230 xâu tiền để mở trường học miễn phí thứ hai tại địa điểm mà nay là thôn Dương Nhị, thị xã Lâm Thanh, Trung Quốc.

Vũ Huấn toàn tâm toàn ý mở trường nghĩa học, vì nghĩ nếu lấy vợ sinh con thì tất cả đều khổ sở, cho nên ông cả đời không lấy vợ, không lập gia đình, trải qua cuộc sống cực khổ như trâu ngựa, nhưng không hề tiêu một xu nào cho bản thân. Vũ Huấn lúc tuổi già thanh danh lan xa, già trẻ trai gái khắp nơi đều bày tỏ lòng kính trọng đối với ông. Bất kể là đi tới đâu, cứ đến giờ ăn cơm là mọi người đều tranh nhau mời ông vào nhà cùng dùng bữa, chiêu đãi rất ân cần.

Năm 55 tuổi, Vũ Huấn đã thu thập được rất nhiều sách, sáng lập ra Hội đọc sách, dành cho những người không có tiền mua sách được tự do mượn đọc. Có khi ông còn mang sách lên huyện, mang đến các hội làng, chợ phiên để triển lãm, cho bà con mượn đọc. Ông còn in lại sách văn chương, sách học tập với số lượng lớn đem phát tặng miễn phí cho nông dân. Cùng năm ấy, quan Học bộ Thị lang tên là Dụ Đức đến Sơn Đông thị sát, Vũ Huấn chặn kiệu xin quan góp quỹ. Quan Thị lang ưng thuận, quyên góp 200 lạng bạc. Năm 1896, Vũ Huấn dùng 3000 xâu tiền của quan Ngự sử Lâm Thanh tên là Hạng Biện hiến tặng để xây dựng trường nghĩa học thứ ba, gọi là “Ngự sử Hạng nghĩa thục” (trường cũng được xây tại thị xã Lâm Thanh, tỉnh Sơn Đông, sau này được đổi tên thành “Trường Tiểu học Thực nghiệm Vũ Huấn”).

Không lâu sau khi trường học miễn phí thứ ba được thành lập, Vũ Huấn mắc bệnh nặng nhưng vẫn không chịu ở trong phòng, chỉ nằm dưới mái hiên trường học mà tĩnh dưỡng. Nửa tháng sau, ngày 23 tháng 4 năm 1896, Vũ Huấn mỉm cười ra đi trong tiếng đọc sách vang vang của học trò, hưởng thọ 58 tuổi. Nghe theo di chúc, người ta mai táng ông ngay bên cạnh trường “Sùng Hiền nghĩa học”, thị trấn Liễu Lâm. Vào ngày đưa tang, dân chúng các thôn không ai bảo ai đều tự mình lập đàn tế lễ suốt dọc 30 cây số, số người cùng đưa linh cữu lên tới cả vạn, người đến xem hai bên đường đông nghìn nghịt, cả thầy lẫn trò thương khóc rung trời, người dân ai nấy hay tin đều rơi lệ.

Mười năm sau, triều đình nhà Thanh lệnh cho Quốc Sử Quán lấy cuộc đời Vũ Huấn mà viết thành truyện, đồng thời lệnh cho người chăm lo tu sửa phần mộ của ông, xây dựng nhà thờ, lập bia tưởng niệm. Những thành tích của Vũ Huấn được người đời hết sức kính phục, rất nhiều học giả danh tiếng đã viết về ông, nhiều nơi trong cả nước lấy tên Vũ Huấn để đặt tên cho các trường học. Năm 1945, tại phía Nam thị trấn Liễu Lâm khởi công xây dựng Trường Sư phạm Vũ Huấn.

Thầy giáo ngủ quên, Vũ Huấn quỳ đợi bên giường

Dẫu là một người hành khất “dốt đặc cán mai” nhưng Vũ Huấn luôn giữ nếp tôn sư trọng đạo. Vũ Huấn rất quan tâm đến tình hình học tập của học sinh, thường hay đến trường quan sát. Đối với những thầy giáo dạy bảo học trò tận tình, ông dập đầu quỳ gối cảm tạ; đối với những học trò ham chơi, không lo học hành, ông quỳ xuống vừa khóc vừa khuyên: “Không cố gắng đọc sách thì không mặt mũi nào về nhà gặp cha mẹ”.

Một buổi đi thăm trường học, trông thấy đám học sinh đang nhao nhao trong lớp nhưng lại không thấy thầy giáo đâu, Vũ Huấn đứng đợi một hồi vẫn không thấy, bèn tìm đến phòng của thầy thì thấy người thầy đang ngủ mê say.

Vũ Huấn không tức giận mà lặng yên đến bên chỗ người thầy đang ngủ, quỳ xuống và chờ mãi ở đó. Một hồi lâu vẫn không thấy thầy thức dậy, nguyên là thầy giáo đêm qua vô cùng mệt nhọc nên sáng ra đã ngủ quên mất, ông bèn ho một tiếng, thầy vẫn chưa dậy, ho tiếng nữa vẫn chưa tỉnh, liền phải ho lên mấy lần thì thầy giáo mới trợn mắt nhìn, khi ấy mới thấy Vũ Huấn đang quỳ bên giường nên vô cùng kinh ngạc. Thầy giáo vội vàng bật dậy khỏi giường đỡ Vũ Huấn lên, Vũ Huấn lúc này đã nước mắt lưng tròng.

Người thầy nóng lòng lại thấy hổ thẹn, nên tranh thủ nói: “Thật hổ thẹn, hổ thẹn, vô cùng xin lỗi, xin lỗi”. Vũ Huấn lau nước mắt nói: “Không sao, không sao, biết là được rồi, biết là được rồi. Đi học không dễ, dạy dỗ cũng không dễ. Tôi chính là đang thi lễ với thầy đây mà”.

Người thầy lập tức đứng dậy đi đến phòng học, lớp học lại vang lên âm thanh học trò đọc bài lúc trầm lúc bổng. Vũ Huấn lại lặng lẽ lui ra, từ xa vẳng lại tiếng hát của ông: “Thầy giáo ngủ mê, học trò huyên náo, ta đến quỳ cầu, mọi chuyện lại êm xuôi”.

Người ăn mày nhân nghĩa duy nhất được đưa vào chính sử và sách giáo khoa của Trung Hoa Dân Quốc

Năm 1896, Vũ Huấn lâm bệnh nhưng ông cũng chỉ nằm tịnh dưỡng tại mái hiên lớp học để mỗi ngày đều được nghe tiếng học trò đọc sách, đến một ngày ông mỉm cười lặng lẽ qua đời. Cũng trong năm đó, Lương Khải Siêu đã viết truyện về Vũ Huấn, một ăn mày nghĩa sĩ dẫu qua đời nhưng thành tựu ông để lại không biến mất mà trái lại “Dấu tích nhân nghĩa của Vũ công, chính là đại hiển hậu thế”.

Năm 1909, Tuần phủ Sơn Đông Viên Thụ Huân tấu lên triều đình xin xây Trung Nghĩa từ, tuyên dương Vũ Huấn. Viên Thụ Huân nói: “Thần ngu muội cho rằng hành động của Vũ Huấn có thể nói là đại nghĩa, tấm lòng của Vũ Huấn có thể nói là chí nhân. Vậy nên cúi đầu thỉnh cầu thiên ân, đặc biệt giáng thánh chỉ, tuyên giao sử quán ghi chép vào sử sách, dùng đó mà tuyên dương đạo hạnh hiếm có này”. Không lâu sau, nghĩa cử của Vũ Huấn được quốc sử quán ghi vào “Hiếu nghĩa truyền nội”.

“Thanh sử cảo” (Bản thảo lịch sử nhà Thanh) cũng hết lời ngợi khen tinh thần hiếu thuận với mẹ, tôn kính người thầy của Vũ Huấn, làm ăn mày mà xây dựng và quản lý trường nghĩa học, cứu khổ những người bần hàn, đó là hành động đại nhân đại nghĩa. Một người hành khất nghĩa hiệp trong dân gian, quyết chí lòng chẳng đổi, phẩm cách cao thượng được ghi vào sử sách, từ trước tới nay chỉ duy có Vũ Huấn.

Năm 1934, chính phủ Trung Hoa Dân Quốc tổ chức lễ kỷ niệm 97 tuổi Vũ Huấn, Tưởng Giới Thạch, Đới Quý Đào, Phùng Ngọc Tường, Đoạn Kỳ Thụy, Thái Nguyên Bồi, Úc Đạt Phu,… cùng giới nhân sĩ văn hóa, chính trị, quân sự dùng nhiều hình thức để tưởng niệm Vũ Huấn, cho làm tượng Vũ Huấn đặt cùng nơi với Khổng Tử.

d41e1519795805
Một người hành khất nghĩa hiệp trong dân gian, quyết chí lòng chẳng đổi, phẩm cách cao thượng được ghi vào sử sách, từ trước tới nay chỉ duy có Vũ Huấn. (Ảnh: Yuemeiwen)

Tổng thống Trung Hoa Dân Quốc Tưởng Giới Thạch trong bài phát biểu có lời tựa “Luận bàn sau khi nghe chuyện Vũ Huấn tiên sinh” đã khen ngợi tinh thần của Vũ Huấn: “Đem sức người hành khất mà khởi lập nên nghiệp trọn tài vẹn đức. Thân chưa được học hành mà lưu lại ân trạch tốt đẹp phụng sự thế nhân”.

Năm 1945, Trùng Khánh tổ chức lễ 107 tuổi Vũ Huấn, “Tân hoa nhật báo” và “Trung Ương nhật báo”, “Văn hối báo”, “Đại công báo”,… đưa tin rất nhiều nhân vật nổi tiếng tham gia lễ kỷ niệm.

Tháng 12/1945, nhà giáo Đào Hành Tri viết “Vũ Huấn tụng” tán dương rằng: “Sáng sớm đến tối muộn, vui vui sướng sướng, cả đời từ lúc trẻ đến lúc già, bôn ba tứ xứ, vì những đứa trẻ khốn khổ mà cam tâm làm lạc đà, vì điều tốt đẹp cho người mà làm trâu ngựa cũng không từ nan, muốn tìm lẽ công bằng cũng không chỗ tựa nương, bạn bè chẳng bao nhiêu, lại chẳng được học hành, còn bị kẻ có học lừa gạt, trước mặt người mà quỳ cầu, đá cứng cũng chuyển dời, không tích cóp gia sản, chẳng cầu mong lấy vợ, chỉ đem một lòng làm đại sự, chấn hưng giáo dục, chấn hưng giáo dục, chấn hưng giáo dục”.

Thời Trung Hoa Dân Quốc, Vũ Huấn trở thành nhân vật quen thuộc trong sách giáo khoa.

Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) cấm lưu hành phim “Vũ Huấn truyện”

Năm 1944, Đào Hành Tri đưa cho đạo diễn Tôn Du một tuyển tập tranh vẽ “Truyện tranh Vũ Huấn tiên sinh”. Tôn Du vô cùng xúc động trước tấm lòng của Vũ Huấn. Tháng 10/1950, bộ phim “Vũ Huấn truyện” do Tôn Du làm đạo diễn, Triệu Đan đóng vai chính được hoàn thành, phim sau khi phát hành đã gặt hái thành công lớn. “Văn Hối báo” bình luận “Người xem nồng nhiệt đón nhận, lời khen tặng như nước triều dâng, khắp nơi đều ngợi khen”.

Mặc dù bộ phim do Tôn Du thực hiện đã dựa theo những ý kiến từ Chu  n Lai, cũng như cải biến một số phân đoạn để phù hợp với quan điểm đấu tranh giai cấp của ĐCSTQ, nhưng bản thân Vũ Huấn đã là một câu chuyện thấm đẫm nghĩa nhân, biểu hiện sự cần cù, lương thiện, giàu trí tuệ và phẩm chất cao thượng của người Trung Hoa, có thể cảm động rất nhiều người. Khi ấy, thầy trò trường bồi dưỡng nhân tài Thượng Hải xem phim xong đã khóc mà nói rằng: “Lịch sử Trung Quốc có một Vũ Huấn tiên sinh như vậy, thật là điều vinh dự cho chúng ta”.

Tuy nhiên sau 1 năm trình chiếu, bộ phim “Vũ Huấn truyện” đã bị Mao Trạch Đông phê phán. Ngày 20/5/1951, Mao Trạch Đông đăng bài xã luận trên Nhân dân Nhật báo nói rằng: “Cần phải chú trọng thảo luận ‘Vũ Huấn truyện’”, vạch rõ “Vũ Huấn truyện” là “cỏ độc phản đảng”. Ngày 4/6/1951, hệ thống giáo dục cả nước khởi đầu cuộc tranh luận “đả đảo tinh thần Vũ Huấn”.

f93272e733e04a74b3db8f26e2b53830
Đem sức người hành khất mà khởi lập nên nghiệp trọn tài vẹn đức. Thân chưa được học hành mà lưu lại ân trạch tốt đẹp phụng sự thế nhân. (Ảnh: CND)

Cuối năm 1951, ĐCSTQ tổ chức nhóm điều tra lịch sử Vũ Huấn gồm 13 người trong đó có Giang Thanh đã đến Lâm Thanh, Sơn Đông để tiến hành hoạt động gọi là điều tra lý lịch của Vũ Huấn. Từ ngày 23 đến 28/7/1951, Nhân dân Nhật báo liên tục đăng 6 bài dài “Bản điều tra lịch sử Vũ Huấn” ghi rõ kết luận “đại lưu manh phục vụ chính phủ phản động, chủ nợ và là đại địa chủ”.

Bởi bị Mao Trạch Đông phê phán nên bộ phim “Vũ Huấn truyện” sau đó đã bị cấm chiếu. Tôn Du, Triệu Đan cùng hơn 40 nhân viên liên quan đến bộ phim bị đả kích. Vào thời Cách mạng Văn hóa, Triệu Đan bị bắt giam. Từ năm 1927 đến 1949, “Cha đẻ điện ảnh Trung Quốc” Tôn Du cho ra đời khoảng 20 bộ phim nhựa, nhưng từ năm 1950 đến khi qua đời ông chỉ sản xuất được thêm 3 bộ phim.

Cho đến hôm nay, người người đều tỏ tường, ĐCSTQ chính là phá nát văn hóa văn minh Trung Quốc mà người đầu sỏ là Mao Trạch Đông. Thông qua phê phán “Vũ Huấn truyện”, Mao đã mở màn cho cuộc tấn công và cải tạo hệ tư tưởng phần tử trí thức. Bản chất “Giả Ác Đấu” của ĐCSTQ hoàn toàn đối lập với nội hàm văn hóa truyền thống Trung Quốc thể hiện trong tinh thần của người ăn mày xây trường nghĩa học Vũ Huấn.

ntdvn bannedbookorg
Mùa hè năm 1966, bọn Hồng vệ binh của huyện Quán tỉnh Sơn Đông mang theo búa, xà-beng hò hét khẩu hiệu: “Phá tứ cựu, lập tứ tân” (phá 4 cái cũ, tạo lập 4 cái mới), rồi đập vỡ mộ ông. (Ảnh qua: bannedbook.org)

Vào thời Cách mạng Văn hóa, mộ của Vũ Huấn ở Sơn Đông đã bị Hồng Vệ Binh đập phá, di cốt Vũ Huấn bị đào lên bêu phố rồi đốt cháy.

Chân Tâm t/h
Tham khảo: Minh Huệ Net, Epoch Times

Banner Visaoconhanloai Footer 5 1920x466 12

Xem thêm:

Xem thêm

- Quảng cáo -spot_img

Xem nhiều