spot_img
24.4 C
Vietnam
Thứ Bảy,13 Tháng 6
spot_img

Dự báo dân số Việt Nam giảm mạnh: Vì sao mốc 2035 rất đáng lo?

Theo giáo sư – tiến sĩ Nguyễn Thiện Nhân, năm 2035 là mốc đặc biệt quan trọng khi dân số tuổi lao động của Việt Nam đạt đỉnh và bắt đầu giảm, kéo theo sức ép lớn lên tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững.

Vì sao phải dự báo dân số đến hàng trăm năm sau?

Giáo sư – tiến sĩ Nguyễn Thiện Nhân, nguyên Bí thư Thành ủy TP.HCM cho rằng phát triển bền vững không thể chỉ nhìn trong 5 – 10 năm. Theo ông, để thật sự bền vững, cần đặt ra câu hỏi: “Vài trăm năm nữa đất nước sẽ ra sao?”. Ông cho biết đến nay chỉ có Nhật Bản và Hàn Quốc công bố dự báo dân số của đất nước mình sau 1.000 năm.

Dự báo dân số dài hạn của Nhật Bản và Hàn Quốc cho thấy, nếu các chính sách liên quan đến con người gây ra mức sinh thấp hàng chục năm ở hai nước này không được thay đổi thì sẽ gây ra hậu quả vô cùng đau lòng: sau 200 năm dân số giảm hơn 90%, sau 300 năm giảm hơn 98% (so với khi dân số lớn nhất) và sau 750 năm ở Hàn Quốc và 1.000 năm ở Nhật Bản thì không còn ai.

Dự báo dân số dài hạn giúp nhìn rõ quỹ đạo phát triển của đất nước trong nhiều thế kỷ tới (ẢNH: NGỌC DƯƠNG) 

Theo giáo sư, câu hỏi Việt Nam có nguy cơ tự tiêu vong như Nhật Bản và Hàn Quốc đã dự báo hay không chỉ có thể trả lời nếu dự báo được dân số Việt Nam trong 200 năm, 300 năm, thậm chí 1.000 năm. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có tổ chức khoa học nào công bố phương pháp dự báo dân số sau hàng trăm năm và 1.000 năm; ngay cả Nhật Bản và Hàn Quốc cũng không công bố phương pháp dự báo của họ.

Trao đổi với phóng viên Báo Thanh Niên, giáo sư Nhân chia sẻ đã dành khoảng 4 năm (2020 – 2024) để xây dựng phương pháp dự báo thô dân số Việt Nam. Phương pháp này đã được công bố trên Tạp chí Gia đình và giới (quyển 34, số 1.2024), Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam năm 2024.

Phương pháp cho phép hình dung nguy cơ Việt Nam phải đối diện nếu mức sinh giảm còn khoảng 1,4 vào năm 2100 và tiếp tục duy trì ở mức 1,3 sau đó. Đồng thời nhận diện cơ hội ổn định dân số nếu mức sinh giảm còn 1,8 vào năm 2050 rồi phục hồi về mức sinh thay thế 2,1 vào năm 2100 và tiếp tục duy trì.

Từ mô hình này, giáo sư đưa ra 3 kịch bản dự báo. Theo phương án cơ sở, dân số Việt Nam đạt khoảng 107 triệu người vào năm 2050; rồi giảm còn 88 triệu người vào năm 2100; 46 triệu người vào năm 2200; 22,5 triệu người vào năm 2300 (giảm gần 80%) và chỉ còn 136.000 người vào năm 3000.

Ở phương án lạc quan, dân số Việt Nam năm 3000 còn khoảng 36,3 triệu người. Còn theo phương án rất lạc quan, con số này có thể đạt mức 96,7 triệu người.

Ông cho biết, theo dự báo ngắn hạn đến năm 2100 của Quỹ Dân số Liên Hiệp Quốc, năm 2035 là thời điểm dân số tuổi lao động của Việt Nam đạt đỉnh 66,59 triệu người, sau đó giảm còn 44,87 triệu người vào năm 2100 (tương đương dân số tuổi lao động năm 1999). Năm 2035 là mốc 10 năm trước khi Việt Nam đạt mục tiêu trở thành nước có thu nhập cao.

Sau thời điểm này, dân số tuổi lao động giảm sẽ gây sức ép ngày càng lớn lên tăng trưởng kinh tế. Ông cho rằng nếu năng suất lao động không tăng đủ mạnh trong giai đoạn 2035 – 2045 để bù lao động suy giảm, thì từ năm 2050 đến 2100, GDP và GDP/người của Việt Nam nhiều khả năng sẽ trì trệ, suy giảm.

Bên cạnh đó, ông nhấn mạnh dự báo dân số dài hạn còn giúp nhìn rõ giới hạn của việc dùng số người nhập cư để bù đắp thiếu hụt lao động.

Theo ông, tất cả nước thu nhập cao như Mỹ, Canada, Đức, Pháp, Úc, Singapore có mức sinh thấp dưới mức sinh thay thế 2,1 hàng chục năm vẫn duy trì được hoặc thậm chí tăng lực lượng lao động và quy mô dân số là nhờ lượng người nhập cư với quy mô lớn.

Tuy nhiên, mức sinh toàn cầu được dự báo ở mức 2,1 vào năm 2030, sau đó giảm còn 1,83 vào năm 2050 và 1,59 vào năm 2100; kéo theo dân số trong độ tuổi lao động của thế giới cũng đạt đỉnh 6,13 tỉ người vào năm 2053 rồi giảm còn 5,17 tỉ vào năm 2100 .

Điều đó cho thấy mô hình bù thiếu hụt lao động bằng nhập cư chỉ hiệu quả trong giai đoạn 1975 – 2055; sau năm 2055 khi lao động toàn cầu giảm thì nhiều nước sẽ không thể trông cậy vào nhập nguồn nhân lực dư thừa của các nước có thu nhập thấp hơn vì lúc đó hầu hết các nước này không có lao động dư thừa.

Việt Nam có thể tránh “vết xe đổ” trong cuộc khủng hoảng dân số

Giáo sư Nguyễn Thiện Nhân cho biết, Việt Nam đang có những tiền đề rất quan trọng để không rơi vào quỹ đạo khủng hoảng dân số, phát triển không bền vững về con người như Nhật Bản, Hàn Quốc.

Bàn về giải pháp để duy trì vững chắc mức sinh thay thế, giáo sư Nhân đề xuất một khung giải pháp gồm: 6 điều kiện xã hội và 2 phẩm chất cần có ở thanh niên.

Việt Nam đang có những tiền đề rất quan trọng để không rơi vào quỹ đạo khủng hoảng dân số, phát triển không bền vững về con người như Nhật Bản, Hàn Quốc… ẢNH: NGỌC DƯƠNG

Theo đó, 6 điều kiện xã hội gồm: mỗi cặp vợ chồng trẻ đều có nhà (thuê, mua trả góp, nhà của cha mẹ); mỗi trẻ từ 6 tháng tuổi trở lên đều có thể đi học; mỗi người dân đều có bảo hiểm y tế; mỗi người đi làm có mức lương bằng hoặc cao hơn lương đủ sống để có thể nuôi được một con tử tế và cho con đi học đến 18 tuổi; mỗi người đi làm đều có bảo hiểm xã hội và mỗi người sử dụng lao động, mỗi cộng đồng dân cư và mỗi gia đình đều coi việc sinh con sẽ quyết định vận mệnh quốc gia.

Về phía thanh niên, giáo sư cho rằng cần có 2 phẩm chất. Thứ nhất, hiểu được rằng có gia đình, có con là hạnh phúc không gì thay thế được của đời người, đồng thời có kỹ năng xây dựng gia đình hạnh phúc. Thứ hai, có khát vọng sinh con để đất nước phát triển bền vững, dân tộc trường tồn.

Theo giáo sư, nếu bảo đảm được 6 điều kiện xã hội và 2 phẩm chất này ở thanh niên, Việt Nam có thể trở thành quốc gia thịnh vượng vào năm 2045, phát triển bền vững về con người và kinh tế – xã hội đến năm 2100 và sau đó, người dân hạnh phúc, dân tộc trường tồn.

Ông cũng đặc biệt nhấn mạnh việc đưa môn “Hạnh phúc học” vào chương trình giáo dục phổ thông và đại học. Môn học này không chỉ giúp thanh niên hiểu rằng có gia đình, có con là hạnh phúc không gì thay thế được của đời người; mà còn trang bị tri thức, nguyên tắc và kỹ năng để xây dựng, gìn giữ gia đình hạnh phúc, biết nuôi dạy con.

Để giữ vững mức sinh thay thế, đảm bảo phát triển bền vững về con người, ông đề xuất bổ sung vào luật Dân số năm 2025 các giải pháp như: công bố tiêu chí quốc gia và tỉnh, thành phố hạnh phúc; đưa môn học “Hạnh phúc học” vào trường học, giáo dục yêu nước phải gắn với trách nhiệm sinh con; quy định lương đủ sống tối thiểu 1 người đi làm nuôi được 1 con tử tế và xây dựng lộ trình tăng tuổi hưu lên 65 trước năm 2035.

Theo TNO

BÀI CHỌN LỌC:

Xác chết đột nhiên tỉnh lại, kể cho bác sĩ nghe một sự thật kinh hoàng

Chính quyền Trung Quốc bị lên án mạnh mẽ khi cuốn sách”Giết người theo nhu cầu” được công bố

XEM THÊM:

Phong tỏa Hormuz: Cú đánh nặng vào “cỗ máy thiếu dầu” của Trung Quốc

Hà Tĩnh: Nhiều hecta rừng ngập mặn chết khô

Tân Thế Kỷ *Truyền Thống – Nhân Văn – Trung Thực*

 

Xem thêm

- Quảng cáo -spot_img

Xem nhiều